Hồ Chí Minh – Kiên định một lập trường

Mục đích của cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu là đem lại độc lập tự do của Tổ quốc, đem lại hạnh phúc cho đồng bào. Chính vì mục đích cao cả ấy mà Người đã “không có của riêng”.  Cuộc đời và sự nghiệp của Người trở thành tài sản của non sông đất nước và nhân loại.

    Ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, tìm thấy con đường cứu nước 1920; thực chất của con đường cứu nước mà Bác tìm thấy là con đường theo chủ nghĩa Mác-Lênin, con đường gắn chặt giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Mục tiêu giải phóng giai cấp công nhân theo chủ nghĩa Mác-Lênin mà Hồ Chí Minh tìm thấy đó là giải phóng dân tộc. Chính chủ nghĩa Mác-Lênin đã nêu điều đó: giai cấp công nhân ở mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải trở thành giai cấp dân tộc. Nếu giai cấp công nhân ở mỗi nước mà không giành được chính quyền thì không thể có điều kiện lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa trên địa bàn dân tộc mình và như vậy càng không thể có điều kiện để giúp đỡ, làm nghĩa vụ giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng các dân tộc khác. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin coi đó là nhiệm vụ trước hết của giai cấp công nhân tất cả các nước.

Advertisements

Hồ Chí Minh – Người tìm đường cứu nước – đưa Cách mạng Tháng tám đến thành công

Vào cuối thế kỷ XIX, nước ta bị thực dân Pháp thống trị. Không cam chịu nô lệ, nhiều nhà yêu nước nổi tiếng như Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám, Lương Văn Can… đi tìm đường cứu nước, nhưng kết cục đều bị thất bại. Trong lúc khó khăn chưa có lối thoát, ngày 5/6/1911, Bác Hồ với tên gọi Nguyễn Tất Thành đã rời bến Nhà Rồng quyết tâm ra đi tìm bằng được con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.

 Nguyễn Tất Thành đã len lỏi trong quần chúng cần lao, trong giới thợ thuyền, những người nông dân nghèo khổ, đến các nông thôn hẻo lánh ở New York, Luân Đôn, Pari, Thái Lan, Trung Quốc… để tìm hiểu, tham gia vận động và tổ chức các phong trào cách mạng. Song, lúc đó Người chưa thể có điều kiện đầy đủ để bắt gặp Chủ nghĩa Mác-Lê Nin. ở châu Âu, chủ nghĩa Mác ra đời đã trên 60 năm (1847-1911), nhưng trên thế giới chưa có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào giành được thắng lợi. Những nơi mà Nguyễn Tất Thành (Nguyễn ái Quốc) đặt chân đến để tìm hiểu, nghiên cứu cũng chưa có Đảng Cộng sản, và trước năm 1919, Quốc tế Cộng sản chưa ra đời. Người nghiên cứu những cuộc cách mạng đã giành thắng lợi tại những nước tư bản phát triển nhất. Đó là cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng tháng 7/1789 và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này, nhưng không thể đi theo con đường cách mạng của họ được. Bởi vì, như Người đã nói:

Tiếp tục đọc

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói gì về Điện Biên Phủ?

– “Chiến thắng Điện Biên Phủ chấm dứt huyền thoại bất khả chiến bại của phương Tây, truyền cảm hứng cho các lực lượng chống đế quốc thực dân trên toàn thế giới”.

 


Wilfred Burchett, một trong những nhà báo chiến trường người Australia nổi tiếng của thế kỷ 20 đã có cuộc phỏng vấn với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày 13/4/1964. Trong cuộc phỏng vấn này, với độ lùi thời gian 10 năm kể từ chiến thắng lừng lẫy ở Điện Biên Phủ, ông đã đặt câu hỏi với Đại tướng về “những bài học cần thiết”.Cuộc phỏng vấn đã được đưa vào cuốn “Rebel Journalism” – một tuyển tập các bài viết của ông Burchett. Kỷ niệm 59 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2013), xin giới thiệu bạn đọc bài phỏng vấn này.

 

 

Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ, Wilfred Burchett
Nhà báo Wilfred Burchett trò chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

 
Nhà báo Wilfred Burchett giới thiệu trong lời đề dẫn bài phỏng vấn:

“Năm 1954, Tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy chiến dịch 57 ngày đêm chống lại tập đoàn cứ điểm Pháp ở Điện Biên Phủ, phía tây bắc Việt Nam. Cuộc chiến đánh dấu hồi cáo chung của chủ nghĩa thực dân. Tiếp tục đọc

Nhà Mạc – Nam Bắc Triều (1527-1592)

 Nhà Lê suy sụp và sự ra đời của triều Mạc

 Ngay từ những năm cuối thế kỷ XV, mô hình tổ chức nhà nước cũng như các chính sách của triều Lê sơ đã bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn. Hệ thống quan lại hoàn bị, vốn là công cụ quản lý nhà nước sắc bén, dần biến thành một bộ máy quan liêu cồng kềnh. Nạn tham nhũng ngày càng trở nên phổ biến. Trước tinh hình đó, người kế nghiệp Lê Thánh Tông là Lê Hiến Tông(1497 – 1505 ) đã có những cố gắng nhằm củng cố bộ máy chính quyền, nhưng kết quả chẳng được là bao. Năm 1499, ông đã ra sắc lệnh sa thải bớt lại viên trong bộ máy chính quyền từ trung ương đặt các địa phương. Trong tờ sắc cho Thượng thư Bộ Lại có đoạn viết: “Ỷ vào phép nước là thói tệ của bọn lại … Trước đây, lựa chọn không công bằng, bọn lại quá nhiều, rất nhũng tạp. Có kẻ ăn may, chỉ một nghề là được bổ dụng, có kẻ nhờ cậy nhiều ngón mong được chỗ hơn, hối lộ công khai, thăng quan vượt cấp“. Đó chỉ là một phần biểu hiện của thực trạng nghiêm trọng hơn. Mô hình tập quyền quan liêu không còn phù hợp với sự phát triển của kinh tế và xã hội, đã bất lực trong việc điều hành đất nước. Tiếp tục đọc

Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ

Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ

Triều Hậu Lê kéo dài 361 năm (1428 – 1789), được chia làm 2 thời kì : Lê sơ được tình từ khi Lê Lợi lên ngôi( 1428) đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi ( 1527), gồm 11 đời vua, trong đó Lê Thái Tổ là người sáng lập, Lê Thánh Tông là người đưa vương triều Lê đến giai đoạn thịnh trị nhất. 

     1. Tình hình chinh trị 

    Bộ máy chính quyền

    Một công việc thiết yếu mà các vua thời Lê sơ đều quan tâm và cố gắng thực hiện là kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung, mang tính quan liêu chuyên chế. Đến thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497), nó đạt tới đỉnh cao, trở thành một nhà nước toàn trị, cực quyền. Đây là một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình, từ nền quân chủ quý tộc thời Lý – Trần mang đậm tính Phật giáo màu sắc Đông Nam Á sang một nền quân chủ quan liêu Nho giáo Đông Á. Tiếp tục đọc

Giải phóng Trường Sa, trận đánh thần tốc

Với những trận đánh xuất quỷ nhập thần dưới nước từng lập nhiều chiến công, Đoàn 126 đặc công hải quân (HQ) được giao nhiệm vụ giải phóng Trường Sa.

Những người lính đặc công xác định khó mấy cũng quyết đi, xa mấy cũng quyết đến và địch có mạnh mấy cũng quyết thắng. “Nếu không giải phóng được Trường Sa, anh em quyết không về!” – họ quả quyết

Mật lệnh khẩn cấp

Ngày 5-4-1975, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ Tư lệnh Quân chủng HQ: Tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng các đảo ở Trường Sa, kiên quyết không để lực lượng nào khác đến đánh chiếm trước ta.

Cùng lúc, Phó Tư lệnh Quân chủng HQ Hoàng Hữu Thái cũng nhận được mật lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, yêu cầu HQ tổ chức lực lượng, bằng mọi giá đánh chiếm và giải phóng các đảo do quân đội Việt Nam Cộng hòa chiếm giữ trên quần đảo Trường Sa.

Sau khi Quân chủng HQ xác định sử dụng tàu của Đoàn 125 và bộ đội đặc công của Đoàn 126 tiến công giải phóng Trường Sa, một vị chỉ huy ngay lập tức được triệu tập: Đoàn trưởng Đoàn 126 Mai Năng, người dẫn đầu đội quân tinh nhuệ từng đánh hơn 300 trận ở chiến trường Cửa Việt – Quảng Trị.

Thiếu tướng Mai Năng nhớ lại: “Ban đầu, tôi không biết sẽ nhận nhiệm vụ giải phóng Trường Sa. Sau khi gặp Phó Tư lệnh Hoàng Hữu Thái, tôi cảm thấy trọng trách rất lớn, rất thiêng liêng”.

Lĩnh ấn ra trận tiền trên biển, Đoàn trưởng Mai Năng liền phổ biến nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và khẩn cấp mà Đoàn 126 được giao.

Tàu của Đoàn 125 đưa lực lượng đặc công hải quân ra giải phóng Trường Sa. Ảnh: Tư liệu

Những người lính đặc công HQ xác định đây là trận đánh cuối cùng, khó mấy cũng quyết đi, xa mấy cũng quyết đến và địch có mạnh mấy cũng quyết thắng.

“Nếu không giải phóng được Trường Sa, anh em quyết không về!” – các chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm, từng hàng trăm trận vào sinh ra tử, quả quyết với vị chỉ huy. Tiếp tục đọc

NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG Mồng 10 tháng 3 (âm lịch)

“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”


Theo sử cũ và truyền thuyết để lại, nước Văn Lang lú bấy giờ có 15 bộ lạc Việt sinh sốngchủ yếu ở miến trung du và đồng bằng châu thổ sông Hồng. hàng chục bộ lạc Âu Việt sinh sống ở vùng Việt Bắc.

Do nhu cầu trị thủy, chống giặc ngoại xâm và do việc trao đổi kinh tế văn hóa ngàng càng được đẩy mạnh, giữa các bộ lạc gần gũi nhau về dòng máu có xu hướng tập hợp và thống nhất với nhau. Tiếp tục đọc

30-4-1975:NGÀY GIẢI PHÓNG SÀI GÒN THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

  • 30/4/1975
  • NGÀY GIẢI PHÓNG SÀI GÒN THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Mùa Xuân năm 1975, nhân dân Việt Nam ta đã ghi một chiến công vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử anh hùng của dân tộc: sau 55 ngày đêm tiến công thần tốc đã quét sạch toàn bộ chế độ thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng miền Nam thân yêu, giành lại độc lập hoàn toàn cho đất nước.

Tháng Giêng năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Mặc dầu đã bị thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vẫn ngoan cố theo đuổi âm mưu áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới lên toàn bộ miềnNam nước ta. Chúng đã trắng trợn chà đạp hầu hết các điều khoản chủ yếu của Hiệp định, tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới trên quy môn lớn bằng các kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” và những cuộc hành quân “bình định” lấn chiếm vùng giải phóng, chồng chất muôn vàn tội ác đối với đồng bào ta. Tiếp tục đọc

Từ 26 đến 30-4-1975 :Chiến dịch Tổng công kích giải phóng Sài Gòn-Gia Định – “ Chiến dịch Hồ Chí Minh

Ta bước vào chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tư tưởng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Ta huy động vào chiến dịch này một lực lượng lớn hơn bất cứ chiến dịch nào trước đây, bao gồm cả lực lượng vũ trang và chính trị.

 

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ( 30/4/1975 )    

Những ngày đầu chiến dịch

Thời cơ nối tiếp thời cơ, chiến dịch mở ra chiến dịch, hội nghị Bộ chính trị ngày 31/3/1975 xác định “Từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu”. Các nghị sĩ Mỹ theo dõi tình hình miền Nam quả quyết, đã quá muộn để làm bất cứ việc gì nhằm lật ngược tình thế ở Việt Nam. Tiếp tục đọc

9 đến 24-4-1975 :Chiến dịch tiến công Xuân Lộc – cửa ngõ phía đông Sài Gòn.

Image

Địa bàn: Xuân Lộc, Long Khánh. Mục đích chiến dịch là tiêu diệt địch ở vòng ngoài, phá âm mưu phòng ngự từ xa, phá thế củng cố phòng ngự Sài Gòn của địch, cắt phá giao thông, cô lập Sài Gòn, tạo thế có lợi mở đường tiến công Sài Gòn.

Địa bàn: Xuân Lộc, Long Khánh. Mục đích chiến dịch là tiêu diệt địch ở vòng ngoài, phá âm mưu phòng ngự từ xa, phá thế củng cố phòng ngự Sài Gòn của địch, cắt phá giao thông, cô lập Sài Gòn, tạo thế có lợi mở đường tiến công Sài Gòn. Đây là chiến dịch diễn ra gay go, quyết liệt.

Diễn biến của chiến dịch :

Sáng 9-4, ta đồng loạt nổ súng tiến công Xuân Lộc và tiểu khu Long Khánh. Tuy nhiên, chỉ có sư đoàn 9 làm chủ được đường 1A từ Hưng Nghĩa đến đèo Mẹ Bồng Con. Tiếp tục đọc